Chọn ngôn ngữ


Thông tin

Tạo thuận lợi hơn nữa trong việc thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản

Tạo thuận lợi hơn nữa trong việc thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản


Ngày 01/9/2015, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 11/2015/TT-BTP  sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2014/TT-BTP ngày 26 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2011/TT-BTP ngày 16 tháng 02 năm 2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp và Thông tư số 22/2010/TT-BTP ngày 06 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án (có hiệu lực từ ngày 15/10/2015), với những nội dung cơ bản sau đây:

1. Quy định về quyền lựa chọn Trung tâm Đăng ký (khoản 1 Điều 1 Thông tư số 11/2015/TT-BTP)

Nhằm bảo đảm quyền tự do lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ công của người dân và doanh nghiệp theo chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước, khoản 1 Điều 1 của Thông tư số 11/2015/TT-BTP đã bổ sung quy định cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn Trung tâm Đăng ký để thực hiện việc đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng và thông báo việc kê biên tài sản thi hành án. Đồng thời, để thống nhất với quy định nói trên, Thông tư số 11/2015/TT-BTP cũng đã bãi bỏ điểm a khoản 3 Điều 3 Thông tư số 08/2014/TT-BTP quy định về việc tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án trong phạm vi địa giới hành chính của các Trung tâm Đăng ký.

2. Quy định về mã số khách hàng thường xuyên và tài khoản đăng ký trực tuyến (khoản 3 Điều 1 Thông tư số 11/2015/TT-BTP)

Thông tư số 11/2015/TT-BTP sửa đổi quy định của khoản 10 Điều 1 Thông tư số 08/2014/TT-BTP  về yêu cầu cấp mã số khách hàng thường xuyên. Cụ thể là, theokhoản 3 Điều 1 của Thông tư số 11/2015/TT-BTP, mỗi tổ chức, cá nhân được cấp một mã số khách hàng thường xuyên và tài khoản đăng ký trực tuyến để thực hiện việc đăng ký đối với giao dịch bảo đảm do chính tổ chức, cá nhân đó xác lập. Đồng thời, để thống nhất với quy định về mã số khách hàng thường xuyên nêu trên, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 11/2015/TT-BTP đã quy định: đối với những trường hợp tổ chức, cá nhân đã sử dụng mã số khách hàng thường xuyên và tài khoản đăng ký trực tuyến của tổ chức, cá nhân khác để đăng ký đối với giao dịch bảo đảm do chính mình xác lập trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực, thì kể từ ngày 15/10/2015 (ngày có hiệu lực của Thông tư) mà có yêu cầu đăng ký thay đổi, đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm, sửa chữa sai sót, xóa đăng ký, thì phải thực hiện đăng ký khách hàng thường xuyên tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp và sử dụng mã số khách hàng thường xuyên, tài khoản đăng ký trực tuyến được cấp để thực hiện đăng ký thay đổi, đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm, sửa chữa sai sót, xóa đăng ký.

3. Quy định về từ chối đăng ký, trường hợp đăng ký trực tuyến không có giá trị pháp lý (khoản 2 và khoản 4 Điều 1 Thông tư số 11/2015/TT-BTP)

Thông tư số 11/2015/TT-BTP sửa đổi, bổ sung căn cứ từ chối đối với phương thức trực tiếp, qua đường bưu điện, fax, thư điện tử (khoản 2 Điều 1); bổ sung trường hợp đăng ký trực tuyến không có giá trị pháp lý đối với phương thức trực tuyến (khoản 4 Điều 1), cụ thể như sau:

- Người yêu cầu đăng ký là tổ chức, cá nhân sử dụng mã số khách hàng thường xuyên và tài khoản đăng ký trực tuyến của mình để đăng ký đối với giao dịch bảo đảm không do chính mình xác lập hoặc sử dụng mã số khách hàng thường xuyên và tài khoản đăng ký trực tuyến của tổ chức, cá nhân khác để đăng ký đối với giao dịch bảo đảm do chính mình xác lập.

- Kê khai từ 02 số hợp đồng, giao dịch hoặc kê khai từ 02 thời điểm ký kết hợp đồng, giao dịch trở lên tại mục “Số giao dịch bảo đảm, hợp đồng” trên Đơn yêu cầu đăng ký hoặc tại trường “Số hợp đồng” trên giao diện đơn yêu cầu đăng ký trực tuyến.

4. Quy định về giấy tờ chứng minh đối với trường hợp không phải nộp lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm (khoản 3 và khoản 5 Điều 1 Thông tư số 11/2015/TT-BTP)

Nhằm thực hiện quy định về việc không thu lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm của hộ gia đình, cá nhân của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn,Thông tư số 11/2015/TT-BTP đã bổ sung quy định về các loại giấy tờ chứng minh trường hợp không phải nộp lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, bao gồm:  

a) Hợp đồng thế chấp hoặc Hợp đồng tín dụng có điều khoản về việc cá nhân, hộ gia đình vay vốn sử dụng vào một trong các lĩnh vực phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (01 bản chính hoặc 01 bản sao có chứng thực);

b) Văn bản xác nhận (có chữ  ký và con dấu) của tổ chức tín dụng về việc cá nhân, hộ gia đình vay vốn sử dụng vào một trong các lĩnh vực phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (01 bản chính hoặc 01 bản sao có chứng thực).

Với những nội dung cơ bản nêu trên, Thông tư số 11/2015/TT-BTP sẽ tạo thuận lợi tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ đăng ký giao dịch bảo tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản, qua đó, thúc đẩy hoạt động cho vay có bảo đảm bằng động sản, giúp tăng cường khả năng và cơ hội tiếp cận tín dụng của nền kinh tế./. 

Dương Thị Thu Trang - Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Nguồn: http://moj.gov.vn/

    Bình luận (0)         Gửi bạn bè         Bản in